Học tiếng Nhật qua bài hát ~LOVE LETTER~

LOVE LETTER (2012 Remaster)
Ca từ

「LOVE LETTER」 槇原まきはら敬之
のりゆき


線路せんろ沿いのフェンスに 夕焼ゆうやけがまってる
Ánh chiều tà dừng trên hàng rào dọc theo đường ray.

就職しゅうしょく」の二文字ふたもじだけで きみ大人おとなになってく
Cậu đang trở thành người lớn chỉ bằng hai chữ “就職しゅうしょく” mà thôi.

かいのホーム 特急とっきゅうが とおりぎる
たび

Mỗi khi tàu tốc hành lướt qua sân ga đối diện,

とぎれとぎれの 「がんばれ」が 砂利じゃりまれていく
từng chữ “C-ố-l-ê-n n-h-é” như bị cuốn vào sỏi.

ホームに見送みおりにた 友達ともだちざって きっとぼくのことはえない
Chắc chắn cậu không thể thấy được tớ đứng trong nhóm những người bạn đến sân ga để tiễn cậu.

だいきだ だいきだって とうとうえないまま
Cuối cùng thì tớ vẫn chưa thể nói rằng “Tớ thích cậu, thích cậu rất nhiều”,

きみとおくのまちってしまう
nhưng cậu sắp đi đến thành phố xa mất rồi.

何回なんかいも 何回なんかいも かきなおした手紙てがみは まだぼくのポケットの
なか

Lá thư nhiều lần tớ viết vẫn còn nằm nguyên trong túi.

徹夜てつやつくったテープ わたしたかったから
Vì tớ muốn trao chiếc băng cát-sét mà tớ đã dành cả đêm để làm,

夜道よみちをバイクでばし きみいにった
tớ đã phóng xe máy trong màn đêm chỉ để đi gặp cậu.

ずっとえずの言葉ことばを たくしたきょくたちも
Ngay cả bài hát cũng chất chứa những lời không bao giờ có thể nói.

ながたびの 退屈たいくつしのぎに なればそれでいい
Nếu nghe bài hát này để giết thời gian trong chuyến du lịch dài thì cũng tốt thôi.


ヘルメットをって へんになったぼくかみ
Tóc trở nên buồn cười sau khi tớ gỡ mũ bảo hiểm.

わらいながらさわった きみわすれない
Tớ sẽ chẳng quên lúc cậu vừa cười vừa chạm vào tóc tớ.

だいきだ だいきだって とうとうえないまま
Cuối cùng thì tớ vẫn chưa thể nói rằng “Tớ thích cậu, thích cậu rất nhiều”,

きみとおくのまちってしまうのに
mặc dù cậu sắp đi đến thành phố xa.

何回なんかいも 何回なんかいも かきなおした手紙てがみは まだぼくのポケットのなか
Lá thư nhiều lần tớ viết vẫn còn nằm nguyên trong túi.

自転車じてんしゃしながら かえ夕暮ゆうぐ
Mỗi chiều tớ đều đi ngang qua ga này khi đẩy xe đạp về nhà,

このえきとおるたび 網目あみめかげながれる横顔よこがおを ぼくはこっそりつめてた
Tớ lén lút nhìn mãi hình bóng của cậu đổ dài trên trên hàng rào cứ mỗi khi đi ngang qua nhà ga

だいきだ だいきだって ずっとおもっていた
Tớ  luôn thấy rằng “Tớ thích cậu, thích cậu rất nhiều”

君は遠くの街に行ってしまうから
Vì cậu sắp đi đến thành phố xa mất rồi,

何回なんかいも 何回なんかいも かきなおした手紙てがみは ずっとぼくのポケットの
なか

Lá thư nhiều lần tớ viết sẽ mãi mãi nằm nguyên trong túi.

(作詞/作曲 槇原敬之)

“LOVE LETTER” là bài hát của ”槇原まきはら敬之
のりゆき
” được cho ra đời năm 1995.
Nó là bài ca hát trong đoạn quảng cáo thương mại của NTT (công ty điện thoại ở Nhật Bản).
Bài hát này dễ tưởng tượng xem cảnh tượng của nó và có không khí hoài niệm.
Mỗi từ trong ca từ dễ nghe và không nhanh lắm chứ.


線路せんろ沿いのフェンスに 夕焼ゆうやけがまってる

(Ánh chiều tà dừng trên hàng rào dọc theo đường ray.)

“A沿いのB” là B mà ở dọc theo A.

夕焼ゆうやけ” là ánh nắng chiều tà .
Trong ca từ này thể hiện cả cảnh như ảnh trên bằng sử dụng từ “夕焼ゆうやけ” , không phải “夕日ゆうひ (ánh chiều tà)”.

就職しゅうしょく」の二文字ふたもじだけで きみ大人おとなになってく

(Cậu đang trở thành người lớn chỉ bằng hai chữ “就職しゅうしょく” mà thôi.)

就職しゅうしょく” nghĩa là tìm được một việc làm và được viết bằng 2 chữ Kanji..

“なっていく” chỉ rằng càng ngày càng trở thành cái gì đó.

かいのホーム 特急とっきゅうが とおぎるたび

(Mỗi khi tàu tốc hành lướt qua sân ga đối diện,)

“ホーム” là từ rút ngắn của “プラットホーム (platform) nghĩa là sân ga trong tiếng Việt .

特急とっきゅう” là tàu tốc hành nhanh nhất (trừ shinkansen,vv) và chỉ dừng tại các ga lớn.
Người Nhật hay dùng từ “特急とっきゅう” để thể hiện điều rất nhanh. Ví dụ như 特急とっきゅうでやるよ! (tôi sẽ làm nhanh như tàu tốc hành  “特急とっきゅう“)

Từ việc tàu tốc hành “特急とっきゅう” đi qua sân ga bên trước mặt thì chúng ta có thể hiểu bối cảnh của bài hát này là ở ga nhỏ (hoặc ga bình thường).

とおぎる” =”とおる”+”ぎる” (đi qua)

V + たび :  mỗi khi

とぎれとぎれの 「がんばれ」が 砂利じゃりまれていく

(từng chữ “C-ố-l-ê-n n-h-é” như bị cuốn vào sỏi.)

“とぎれとぎれ” có nghĩa là điều diễn ra không liên tục .
“とぎれとぎれにう” là một cách nói không trôi chảy, ví dụ như “がん…ば..れ”.(←nó là “とぎれとぎれの がんばれ”.)

む” là “hít vào”

Sỏi được trải trên đường ray.
Có lẽ nhân vật nói  “がんばれ” đang nhìn xuống đường ray.

ホームにおくりにた ともだちにざって  きっとぼくのことはえない

(Chắc chắn cậu không thể thấy được tớ đứng trong nhóm những người bạn đến sân ga để tiễn cậu.)

Vて này chỉ nguyên nhân.

ぼくのことがえない” là biểu hiện giống như “ぼくえない”.
Nhưng “ぼくのことがえない” hơi mơ hồ hơn “ぼくえない” vì từ “~のこと” có thể bao gồm nhiều nghĩa.
ぼくえない” là khi “きみ” đang ở vị trí không thể nhìn thấy “ぼく” được, còn “僕のことがえない” là khi “きみ” không nhận ra “ぼく” vì có nhiều bạn bè ở đấy.

ぼくえない ぼくのことがえない

だいきだ だいきだって とうとうえないまま

(Cuối cùng thì tớ vẫn chưa thể nói rằng “Tớ thích cậu, thích cậu rất nhiều”,)

“~ってう” là cách diễn đạt trong hội thoại của “~とう (nói rằng
~)”.

“とうとう” là “cuối cùng thì”, và “~まま” có nghĩa là trạng thái chưa thay đổi.
“とうとうえないまま” bày là “ぼく” đã muốn nói nhiều lần nhưng cuối cùng vẫn chưa nói được lần nào.

きみとおくのまちに ってしまう

(nhưng cậu sắp đi đến thành phố xa mất rồi.)

“~てしまう” trong trường hợp này không có nghĩa là xong rồi, mà còn biểu hiện là người nói không muốn điều đó.
Với ca từ này, bạn có thể hiểu là thật ra là “ぼく” không muốn ”きみ” đi, ít nhất là muốn nói “大好だいすき” lần cuối cùng.

何回なんかいも 何回なんかいも かきなおした手紙てがみは まだぼくのポケットのなか

(Lá thư nhiều lần tớ viết vẫn còn nằm nguyên trong túi.)

何回なんかいも” : nhiều lần

“~なおす” : làm lại điều gì đó

徹夜てつやつくったテープ わたしたかったから

(Vì tớ muốn trao chiếc băng cát-sét mà tớ đã dành cả đêm để làm,)

徹夜てつやで ~ ” : làm gì đó cả đêm

夜道よみちをバイクでとばし きみいにった

(tớ đã phóng xe máy trong màn đêm chỉ để đi gặp cậu.)

夜道よみち” : đường khi đêm

“バイクでとばし” = “バイクでとばして”
“Vて” này chỉ phương pháp.

ずっとえずの言葉ことばを かくしたきょくたちも

(Ngay cả bài hát cũng chất chứa những lời không bao giờ có thể nói.)

えず” : chưa nói được (“わず” : chưa nói)

Bình thường “たち” chỉ được dùng cho người hoặc động vật. Nhưng trong tình huống này, “たち được dùng để nhân cách hóa những bài hát chứ.

ながたびの 退屈たいくつしのぎに なれば それでいい

(Nếu nghe bài hát này để giết thời gian trong chuyến du lịch dài thì cũng tốt thôi.)

退屈たいくつしのぎ” là điều gì đó giết thời gian , như “ひまつぶし”.

Có thể “~でいい” và “~がいい” được nghe giống nhau, nhưng sự ấn tượng khác nhau nhỉ.
“~がいい” là cách nói tích cực còn “~でいい” là như “cũng được”.
晩御飯ばんごはんはお寿司すしがいい” được nghe như “Tôi muốn ăn sushi!”, còn “晩御飯ばんごはんはお寿司すしでいい” được nghe như “Tôi ăn sushi. Nếu có món ăn khác tốt thì ăn đó cũng được.”.

寿司すしがいい 寿司すしでいい


ぼく” muốn nói “大好だいすき” trong khoảng thời gian dài nhưng không thể.
thực ra là “ぼく” hy vọng những bài hát gửi lời thương đến cho “きみ” nhất nhỉ.

ヘルメットをって へんになったぼくのかみ

(Tóc trở nên buồn cười sau khi tớ gỡ mũ bảo hiểm.)

笑いながら触った 君を忘れない

(Tớ sẽ chẳng quên lúc cậu vừa cười vừa chạm vào tóc tớ.)

だいきだ だいきだって とうとうえないまま

(Cuối cùng thì tớ vẫn chưa thể nói rằng “Tớ thích cậu, thích cậu rất nhiều”,)

きみとおくのまちに ってしまうのに

(mặc dù cậu sắp đi đến thành phố xa. )
Lần trước là “ってしまう” chứ.

何回なんかいも 何回なんかいも かきなおした手紙てがみは まだぼくのポケットのなか

(Lá thư nhiều lần tớ viết vẫn còn nằm nguyên trong túi.)

自転車じてんしゃしながら かえ夕暮ゆうぐれ 

(Mỗi chiều tớ đều đi ngang qua ga này khi đẩy xe đạp về nhà,)

“~たび(に)” : Cứ mỗi lần ~ lại

Hãy tưởng tượng cảnh này trong đầu bạn nhé!


Mặc dù ở Nhật người trên 16 tuổi có thể lấy bằng lái xe máy, nhiều trường cấp 3 có quy định cấm đi học bằng xe máy. Cho nên bạn có thể hiểu là “僕” là học sinh trường cấp 3.

このえきとおたび 網目あみめかげながれる横顔よこがおを ぼくはこっそりつめてた

(Tớ lén lút nhìn mãi hình bóng của cậu đổ dài trên trên hàng rào cứ mỗi khi đi ngang qua nhà ga.)

“こっそり” : lén lút, vụng trộm

だいきだ だいきだって ずっとおもっていた

(Tớ  luôn thấy rằng “Tớ thích cậu, thích cậu rất nhiều”.)

きみとおくのまちに ってしまうから

(Vì cậu sắp xuất phát đến thành phố xa, )

Lần trước là “ってしまうのに” chứ.

何回なんかいも 何回なんかいも かきなおした手紙てがみは ずっとぼくのポケットのなか

(Lá thư nhiều lần tớ viết sẽ mãi mãi nằm nguyên trong túi.)

“僕ぼく” rất thích “きみ” trong thời gian dài nhưng chẳng thể nói được và cũng chẳng thể gặp lại. Trong tiếng Nhật, điều như vậy được gọi là “甘酸あまずっぱい (vừa ngọt vừa chua)”.

Comment

タイトルとURLをコピーしました